Chi
phí cho những sai hỏng bên trong là những chi phí phát sinh do có sự
không phù hợp hoặc sai hỏng ở một giai đoạn nào đó trong quá trình sản
xuất, chi phí phát sinh do có nguyên vật liệu và sản phẩm hư hỏng. Đó
là những chi phí do phải tiến hành những việc làm không cần thiết do
chọn vật liệu sai, kém chất lượng, tổ chức sản xuất tồi…Chi phí cho
những sai hỏng bên trong bao gồm:
§ Lãng phí : Tiến hành những công việc không cần thiết, do nhầm lẫn, tổ chức kém, chọn vật liệu sai,v.v. Ở
các nhà máy, xí nghiệp, sự lãng phí trong các hoạt động thường ngày
thường bị bỏ qua hay ít được quan tâm đúng mức nên thường khó tránh
khỏi. Tuy loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, nhưng có một số loại
lãng phí phổ biến thường gặp: lãng phí do sản xuất thừa,
lãng phí thời gian, lãng phí khi vận chuyển, lãng phí trong quá trình
chế tạo, lãng phí kho, lãng phí động tác, lãng phí do chất lượng sản
phẩm kém …
§ Phế phẩm : Sản phẩm có khuyết tật không thể sữa chữa, dùng hoặc bán được.
§ Gia công lại hoặc sửa chữa lại: Các sản phẩm có khuyết tật hoặc các chỗ sai sót đều cần phải gia công hoặc sửa chữa lại để đáp ứng yêu cầu.
§ Kiểm tra lại: Các sản phẩm sau khi đã sửa chữa cũng cần thiết phải kiểm tra lại để đảm bảo rằng không còn sai sót nào nữa.
§ Thứ phẩm: những sản phẩm còn dùng được nhưng không đạt qui cách và có thể bán với giá thấp, thuộc chất lượng loại hai
§ Phân tích sai hỏng: những hoạt động cần có để xác định nguyên nhân bên trong gây ra sai hỏng của sản phẩm
Đây
là loại chi phí tồn tại ở mọi doanh nghiệp, nó cho ta thấy sự hao phí
vô ích các nguồn lực trong công ty. Nếu việc chi tiêu cho chi phí này
tăng qua các năm điều đó chứng minh doanh nghiệp chưa kiểm soát tốt vấn
đề chất lượng. Vì vậy, để kiểm soát được chi phí này, các doanh nghiệp
phải xây dựng định mức tiêu hao loại chi phí này cho từng năm và định
mức cần phải giảm qua các năm. Hàng tháng, doanh nghiệp phải lập các
báo cáo theo dõi chi phí này. Từ đó đánh giá việc thực tế chi tiêu cho
chi phí này so với định mức, nếu việc chi tiêu này tiết kiệm hơn so với
định mức là tốt.
Ø Chi phí cho những sai hỏng bên ngoài (External Failure costs):
Chi
phí cho những sai hỏng bên ngoài là những chi phí phát sinh do việc đem
đến những sản phẩm kém chất lượng cho khách hàng. Chi phí cho những sai
hỏng bên ngoài bao gồm:
§ Chi phí để giải quyết và phục vụ các khiếu nại của khách hàng.
§ Chi phí cho sự bồi thường sản phẩm không đạt chất lượng, đổi lấy sản phẩm mới.
§ Chi phí sửa chữa và bảo hành những sản phẩm sai sót, hư hỏng trong thời gian còn bảo hành.
§ Chi
phí cho hàng bị trả lại: chi phí điều tra nghiên cứu các sản phẩm bị
trả lại, chi phí vận chuyển trở về và sửa chữa các sản phẩm trả lại.
§ Chi phí lưu kho những sản phẩm bị trả lại, những sản phẩm bảo hành…
§ Chi
phí liên quan đến việc kiện tụng về trách nhiệm pháp lý đối với sản
phẩm không đạt chất lượng và các yêu sách của khách hàng.
§ Chi phí xã hội hay chi phí môi trường.
Cũng giống như chi phí cho những sai hỏng bên trong, loại chi phí này cũng cần giảm chi tiêu qua các năm.
Bảng tóm tắt nội dung chi phí bảo đảm chất lượng trong kiểm soát chất lượng toàn diện
LoạI chi phí bảo đảm chất lượng
|
Nội dung
|
Mục tiêu
|
|
1/ Chi phí phòng ngừa sai hỏng sản phẩm (Prevention costs)
|
- Chi phí cho việc thiết kế và xây dựng quy trình sản xuất.
- Chi phí cho máy móc thiết bị để sản xuất ra các sản phẩm chất lượng cao.
- Chi phí cải tiến chất lượng NVL đầu vào.
- Chi phí cho chương trình bảo trì, bảo dưỡng máy móc…
- Chi phí huấn luyện về chất lượng.
|
-
Chi tiêu nhiều cho loại chi phí này doanh nghiệp sẽ giảm được giảm được
chi phí cho những sai xót trong quá trình sản xuất và những chi phí
phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm. Tăng tỷ trọng chi phí loại
này trong tổng chi phí bảo đảm chất lượng qua các năm.
|
|
2/ Chi phí cho sự kiểm soát sản phẩm (Appraisal costs)
|
- Chi phí cho việc kiểm tra NVL đầu vào, kiểm tra quá trình sản xuất, kiểm tra bán thành phẩm, thành phẩm.
- Chi phí kiểm nghiệm sự vận hành của hệ thống kiểm soát chất lượng
- Chi phí kiểm tra hiện trường sản xuất.
- Chi phí cho việc nhận định và kiểm tra chất lượng định kỳ.
- Chi phí cho việc nhận định và đánh giá nhà cung cấp.
|
-
Chi phí này là loại chi phí không tạo ra giá trị gia tăng trong sản
phẩm. Cần chi tiêu tiết kiệm hơn so với loại chi phí này, nên giảm dần
tỷ trọng loại chi phí này trong tổng chi phí bảo đảm chất lượng qua các
năm.
|
|
3/ Chi phí cho những sai hỏng bên trong (Internal Failure costs)
|
-
Chi phí do lãng phí: do sản xuất thừa, lãng phí thời gian, lãng phí do
tồn kho quá mức, lãng phí do chất lượng NVL kém, chất lượng sản phẩm
kém.
- Phế phẩm.
- Chi phí gia công lại hoặc sửa chữa lại.
- Chi phí kiểm tra lại.
- Thứ phẩm.
- Chi phí phân tích sai hỏng.
|
-
Chi phí này cho thấy sự hao phí vô ích các nguồn lực của công ty. Xây
dựng định mức tiêu hao loại chi phí này cho từng năm và định mức cần
phải giảm qua các năm, chi tiêu thực tế cần tiết kiệm so với định mức.
Nên giảm dần tỷ trọng loại chi phí này trong tổng chi phí bảo đảm chất
lượng qua các năm.
|
|
4/ Chi phí cho những sai hỏng bên ngoài (External Failure costs)
|
- Chi phí giải quyết các khiếu nại của khách hàng.
- Chi phí cho sự bồi thường sản phẩm không đạt chất lượng, đổi lấy sản phẩm mới.
- Chi phí sửa chữa và bảo hành sản phẩm.
- Chi phí cho hàng bị trả lại.
- Chi phí lưu kho những sản phẩm bị trả lại, những sản phẩm bảo hành…
-
Chi phí liên quan đến việc kiện tụng về trách nhiệm pháp lý đối với sản
phẩm không đạt chất lượng và các yêu sách của khách hàng.
- Chi phí xã hội hay chi phí môi trường.
|
-
Xây dựng định mức tiêu hao loại chi phí này cho từng năm và định mức
cần phải giảm qua các năm, chi tiêu thực tế cần tiết kiệm so với định
mức. Nên giảm dần tỷ trọng loại chi phí này trong tổng chi phí bảo đảm
chất lượng qua các năm.
|
Tất
cả bốn loại chi phí trên được ghi nhận trong hệ thống chi phí của các
công ty. Mục tiêu của đo lường chi phí bảo đảm chất lượng là xác định
doanh nghiệp thực tế đã chi tiêu bao nhiêu chi phí cho vấn đề chất
lượng. một nghiên cứu thực tế đối với các công ty ở Mỹ cho thấy, hầu
hết các công ty đã chi tiêu khoảng 15% - 20% doanh thu cho vấn đề chất
lượng sản phẩm. Con số này đáng để các nhà quản trị chất lượng của
doanh nghiệp quan tâm.
Thực
tế, những công ty ít quan tâm đến vấn đề chất lượng sẽ hoàn toàn chọn
sự kiểm tra chất lượng hơn là thiết kế chương trình ngăn ngừa. Vì vậy,
họ sẽ chi tiêu nhiều chi phí cho những sai hỏng bên trong và bên ngoài.
Đồng thời, những công ty này cũng phải dành những khoản chí phí cho sự
thẩm định để đảm bảo cho nguyên vật liệu đầu vào đạt tiêu chuẩn.
Trong
khí đó, những công ty quan tâm đến kiểm soát chất lượng toàn diện lại
chú trọng đến chi phí phòng ngừa rủi ro. Thí dụ: Signetics Corporation
– USA, một công ty về chất bán dẫn của Mỹ, đã lựa chọn chương trình
kiểm soát chất lượng toàn diện sau khi đánh giá và ước lượng rằng với
điều kiện sản xuất như hiện tại, để đạt được chất lượng như yêu cầu của
khách hàng thì công ty cần rất nhiều nhân viên kiểm tra sản phẩm hơn là
nhân viên sản xuất. Một công ty khác, The Material & Controls
Group-USA, Công ty sản xuất thiết bị điện, qua nghiên cứu tình hình
công ty mình cũng đã thấy rằng chi phí cho việc dò tìm, phát hiện và
thay thế những điện trở không đảm bảo chất lượng ngay ở chặng đầu của
quá trình sản xuất sẽ thấp hơn rất nhiều đối với chi phí cho việc sửa
chữa và thay thế 5000 chi tiết thiết bị ở giai đoạn sản xuất này do
không kiểm soát kỷ đầu vào.
Hai
công ty trên đã nhận thấy rằng việc chi nhiều cho loại chi phí phòng
ngừa sai hỏng có thể đưa đến giảm nhiều chi phí cho những sai hỏng bên
trong và bên ngoài. Khi quá trình nghiên cứu sản phẩm, quan hệ với nhà
cung cấp, cũng như cải tiến công cụ máy móc, bảo trì bảo dưỡng mày…
được tốt, về căn bản công ty cũng có thể giảm chi phí cho sự kiểm soát
sản phẩm. Khi chất lượng được gắn liền trong việc thiết kế sản phẩm và
quá trình sản xuất, công ty sẽ không cần nhiều nhân viên kiểm tra sản
phẩm. Trong bốn loại chi phí bảo đảm chất lượng trên, hệ thống kiểm
soát chất lượng toàn điện (TQC) tập trung nhiều vào loại chi phí phòng
ngừa sai hỏng sản phẩm.
Nói
tóm lại, trong những năm qua, chất lượng đã trở thành vấn đề quan tâm
chính của các nhà quản trị. Xây dựng hệ thống kiểm soát chất lượng
chính là cơ sở cho việc đảm bảo mục tiêu chất lượng của doanh nghiệp.
Muốn có chất lượng cao, nhất thiết phải xây dựng và áp dụng các mô
hình, hệ thống kiểm soát chất lượng tiên tiến đó chính là một trong
những công cụ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Kế toán quản
trị đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp tổ chức đạt được mục
tiêu chất lượng của mình bằng cách cung cấp một sự đa dạng về phương
pháp đo lường và các báo cáo để thúc đẩy và đánh giá nổ lực cải tiến
chất lượng của nhà quản trị.
Th.S. LÊ MẠNH HÙNG
Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
- o0o -
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- TS. Bùi Hữu Đạo (2006), “Hệ
thống quản lý chất lượng – công cụ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh
nghiệptrong nền kinh tế thị trường và hộI nhập kinh tế quốc tế”, Vụ Khoa học - Bộ Thương Mại.
2. TS. Đoàn Ngọc Quế (2006), Kế toán quản trị cao cấp, Tài liệu giảng dạy dành cho học viên cao học năm 2006, Trường Đại Học Kinh Tế Tp.HCM
3. Khiếu Thiện Thuật (2002), “Quản lý chất lượng để nâng cao lợi thế cạnh tranh”, Nhà Xuất Bản Thống Kê, Hà Nội.
4. Nguyễn Kim Định (2001), “Thiết lập hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000”, Nhà Xuất Bản Thống Kê.
5. PGS TS. Phạm Văn Dược (2002), “Vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại Học Kinh Tế Tp.HCM
6. Tập Thể Tác giả Tạ Thị Kiều An, Ngô Thị Ánh, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Hoàng Kiệt, Đinh Phượng Vương (2004), “Quản lý chất lượng trong các tổ chức”, Nhà Xuất bản Thống kê.
7. Robert S.Kaplan, Anthony A.Atkinson, “Advanced Management Accounting” (Second Edition), Prentice Hall International Inc, Chapter 10: “Measuring Quality” pages: 372- 411.
8. Robert S.Kaplan, Anthony A.Atkinson, “Advanced Management Accounting” (Third Edition), Prentice Hall International Inc, Chapter 11: “Measuring Customer, Internal Business Process, and Employee Performance” pages: 551- 592.
9. Anthony A.Atkinson, Rajiv D. Banker, Robert S.Kaplan,, S. Mark Young, “Management Accounting” (Third Edition), Prentice Hall International Inc, Chapter 10: “Motivating Behavior in Management Accounting anh Control Systems” pages: 394- 424 |