Ở giai đoạn 1, KTQT được xem là
một hoạt động đơn thuần mang tính chất kỹ thuật nhằm đạt được các mục
tiêu của tổ chức. Sang giai đoạn 2, KTQT được xem như một hoạt động
quản lý nhưng ở vai trò nhân viên thừa hành, hỗ trợ cho các nhà quản lý
cấp cao trong đơn vị thông qua việc cung cấp thông tin cho mục đích
hoạch định và kiểm soát. Ở giai đoạn 3 và 4, KTQT đã trở thành một
bộ phận gắn liền với hoạt động quản lý, các thông tin được cung cấp tức
thời cho người quản lý. Mục tiêu của KTQT ngày nay là tạo thêm giá trị
cho đơn vị thông qua việc sử dụng nguồn lực tốt nhất. Các giá trị
bao gồm:
- Giá trị cho sản phẩm, dịch vụ của đơn vị phục vụ khách hàng
- Giá trị cho cổ phiếu của đơn vị trên thị trường chứng khoán
Để phục vụ cho các mục tiêu
của nhà quản lý, KTQT hiện đại đã phát triển các công cụ và kỹ
thuật phù hợp. Theo đó, các công cụ này bao gồm: công cụ hỗ trợ
cho việc hiểu biết thị trường; công cụ cho kế hoạch chiến lược; công cụ
đánh giá kết quả; công cụ quản lý và phát triển tri thức.
Như vậy, có thể thấy hiện nay KTQT
ở các nước tiên tiến đã phát triển vượt xa khỏi hình thái ban đầu của
nó là hệ thống dự toán ngân sách nhằm phục vụ cho việc kiểm soát chi
phí. KTQT ngày nay đã có những bước tiến rất xa trong những năm
cuối thế kỷ 20 để trở thành một bộ phận không thể tách rời
của quản trị doanh nghiệp.
KTQT hiện đại đã chuyển sang một hình thái mới, hình thái phát triển
tầm nhìn chiến lược đi kèm với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông
tin.
Kế toán quản trị và những quy định liên quan
KTQT là thuật ngữ mới xuất hiện ở
Việt Nam trong vòng 15 năm trở lại đây và đã thu hút được sự chú ý của
các doanh nghiệp. Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp đã bước đầu
vận dụng và xây dựng cho mình một bộ máy kế toán quản trị
riêng biệt.
Đánh dấu cho sự mở đầu này khi Luật
Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHXN Việt Nam khoá XI kỳ
họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã
quy định về KTQT ở các đơn vị như sau: KTQT là việc thu thập, xử lý và
cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong
nội bộ đơn vị kế toán (Luật Kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4). Tuy
nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa
có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát. Do
đó việc hiểu và vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam còn rất mơ hồ.
Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính
tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tư hướng dẫn về
thực hiện KTQT tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM. Có thể nói,
đây là động thái đầu tiên thể hiện sự quan tâm của cấp nhà
nước đối với việc thực hiện KTQT tại Việt Nam
Đến ngày 12/6/2006, Thông tư số
53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị
trong doanh nghiệp chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho
các doanh nghiệp thực hiện KTQT. Từ khi ra đời đến nay kế toán
quản trị vẫn mò mẫm lối đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có
đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tư vấn xây dựng hệ thống
KTQT. Còn đối với các doanh nghiệp, thì KTQT vẫn còn xa vời
về mặt lý luận lẫn vận hành
Kế toán quản trị tiến hóa tại Việt Nam
Cũng như theo xu thế tiến hoá
chung, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với hình thái
hệ thống lập kế hoạch (dự toán ngân sách) và quản trị chi
phí. Phương pháp lập kế hoạch đã bắt đầu sơ khai từ sau những
năm 1985, tuy nhiên bước đầu còn đơn giản và thiếu chính xác.
Sau khi kinh tế tư nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục
vụ cho nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới được phát
triển rầm rộ. Phương pháp lập kế hoạch ở nhiều doanh nghiệp
cũng khác nhau. Về cơ bản, phương pháp lập kế hoạch được phân
làm 2 cách
- Thứ nhất: lập kế hoạch dự
trên sự tăng trưởng. Các doanh nghiệp thường dựa trên sự phát
triển của công ty và các số liệu quá khứ (tốc độ tăng trưởng
của doanh thu, mức độ gia tăng chi phí) và ước lượng kế hoạch
thực hiện cho tương lai. Phương pháp này thường được vận dụng
khá phổ biến hiện nay do dể thực hiện và ước lượng tương đối
chính xác. Các doanh nghiệp hoạt động trong khối sản xuất
thường vận dụng theo phương pháp này
- Thứ hai: dựa vào mục tiêu
của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường dựa vào mục tiêu tăng
trưởng của mình trong thời gian tới và đề ra kế hoạch hành
động sao cho thực hiện được mục tiêu đó. Phương pháp lập kế
hoạch này thường được vận dụng đối với các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực dịch vụ.
Ngoài ra, rất ít doanh nghiệp
chú trong đến việc lập kế hoạch kết hợp giữa hai phương pháp
trên do sự phức tạp trong khâu lượng hoá số liệu kế hoạch và
hạ tầng thông tin chưa đáp ứng được.
Hệ thống quản trị và kiểm soát chi phí
cũng được hình thành theo nhu cầu quản trị của doanh nghiệp,
theo cùng với hệ thống lập kế hoạch (dự toán). Tuy nhiên,
việc kiểm soát chi phí chỉ dừng lại ở một vài khoản mục chi
phí phát sinh tương đối lớn và chiếm tỉ trọng cao như: chi phí
quảng cáo tiếp thị, chi phí vận chuyển, lương… (trong chi phí
bán hàng) ; chi phí tiếp khách, đào tạo,…(trong chi phí quản
lý doanh nghiệp). Bên cạnh đó, việc quản lý chi phí ở khâu
sản xuất (đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất) cũng
được tổ chức chặt chẽ nhằm giảm giá thành sản phẩm.
Qua quá trình phát triển gần
30 năm, KTQT tại Việt Nam hiện vẫn chỉ dừng lại ở khâu lập kế
hoạch và quản trị chi phí, chưa tạo ra giá trị tăng thêm cho
doanh nghiệp. KTQT vẫn bị hiểu sai từ nội dung đến cách thức
xây dựng khiến cho nhiều doanh nghiệp còn lúng túng khi nghiên
cứu để áp dụng.