| Phỏng vấn Mike Schamberger - Giám đốc quản lý rủi ro của Grant Thornton LLP chuyên về cung cấp dịch vụ cho các Doanh nghiệp hoạt động trong thị trường Công nghệ cao, gồm cả Doanh nghiệp Khối Nhà nước và tư nhân thuộc ngành Bưu chính viễn thông, Phần mềm, Phần cứng, Dịch vụ tư vấn Công nghệ thông tin và Công nghệ Sinh học. |
 |
|
 |
Ông là người đứng đầu của
Văn phòng “Technology Industry Practice” tại Chicago, và là một trong 4
thành viên của “ Grant Thornton’s National Technology Industry Practice
Leadership Team”.
Sau đây là Bài phỏng vấn của RevenueRecognition.com liên quan đến các
vấn đề chung của cuộc kiểm toán, kiểm toán doanh thu và hệ thống kiếm
soát nội bộ.
Câu hỏi: Khách hàng cần chuẩn bị những gì trước khi các Kiểm toán viên tới làm việc?
Trả lời: Trước khi Kiểm toán viên tới, thì điều đầu tiên là khách hàng
cần có một hệ thống Kiểm soát nội bộ đủ mạnh để đảm bảo rằng các Báo
cáo tài chính không bao gồm các sai sót trọng yếu. Thứ hai, lập Kế
hoạch là nhân tố chính dẫn tới sự thành công của quá trình Kiểm toán.
Trước khi bắt đầu Công việc Kiểm toán (Fieldwork), Khách hàng phải chắc
chắn rằng Kiểm toán viên của họ sẽ gặp gỡ Ban giám đốc và các thành
viên phòng Kế toán để xác định thời gian hoàn thành Công việc Kiểm
toán. Trong suốt quá trình Họp để lập Kế hoạch Kiểm toán, Kiểm toán
viên trình Ban giám đốc Bản Kế hoạch làm việc (Listing of schedules) mà
khách hàng cần chuẩn bị.
Bản Kế hoạch này phải được hoàn thành trước khi cuộc Kiểm toán bắt đầu
và sẽ bao gồm: Các bảng tính (spreadsheets), Chứng từ gốc (source
documents), Biên bản Họp Hội đồng quản trị, các hợp đồng quan trọng -
Toàn bộ các tài liệu dùng để lập Báo cáo Tài chính. Đây là bản danh
sách rất dài và đòi hỏi khách hàng rất nhiều thời gian để hoàn thành.
Câu hỏi: Những lỗi nào Khách hàng dễ mắc phải nhất khi bắt đầu cuộc Kiểm toán?
Trả lời: Lỗi phổ biến nhất là Khách hàng chưa khoá sổ Kế toán và hoàn
thành các điều chỉnh liên quan tới tài khoản Kế toán. Dẫn tới, quá
trình Kiểm toán trở nên thiếu hiệu quả và thông thường là mất nhiều
thời gian hơn để hoàn thành so với ước tính ban đầu. Và khi có sự hiện
diện của Kiểm toán, khách hàng có thể sẽ khoá sổ kế toán một cách vội
vàng, đồng thời cũng chưa hoàn thành các điều chỉnh để xác định số dư
tài khoản cuối cùng một cách chặt chẽ. Khi điều này xảy ra, thì khả
năng sẽ có các điều chỉnh trọng yếu liên quan tới Báo cáo tài chính là
cần thiết.
Một lỗi thứ hai là khách hàng không đáp ứng hết các Kế hoạch về thời
gian biểu làm việc ban đầu như yêu cầu của Kiểm toán viên. Theo kinh
nghiệm, tôi đã gặp rất nhiều trường hợp, khi công việc Kiểm toán bắt
đầu thì khách hàng mới chỉ hoàn thành một phần tư yêu cầu, phần còn lại
được cung cấp thêm trong quá trình kiểm toán. Chúng tôi thường kết thúc
các công việc kiểm toán ban đầu và sau đó phải đợi khách hàng hoàn
thiện nốt các phần việc còn lại. Điều này, lại một lần nữa, làm cho
chúng tôi trở nên thiếu hiệu quả và cuộc kiểm toán sẽ kéo dài hơn. Các
doanh nghiệp cần lưu ý rằng trong suốt mùa kiểm toán bận rộn, các Kiểm
toán viên sẽ phải làm việc trong khoản từ 60 đến 80 giờ một tuần và
thường kết thúc công việc kiểm toán tại khách hàng sớm hơn so với khách
hàng dự kiến.
Câu hỏi: Kiểm toán viên thường quan tâm đến vấn đề nào, và vấn đề nào thường cần nhiều thời gian nhất?
Trả lời: Hai vấn đề cần nhiều thời gian nhất khi Kiểm toán các Công ty
về Công nghệ là Doanh thu và nợ/vốn. Doanh thu cần nhiều thời gian để
kiểm toán là do khách hàng phải công bố chính thức và giải thích các
vấn đề liên quan đến xử lý doanh thu ra công chúng dẫn tới rủi ro trong
việc có sai sót trọng yếu tăng lên. Kiểm tra thông thường bao gồm việc
chọn một số hợp đồng có trên sổ sách trong năm và xem xét tính đúng đắn
của việc ghi nhận doanh thu của các hợp đồng này. Việc kiểm tra doanh
thu bao gồm: Đọc kỹ hợp đồng và thu thập các tài liệu hỗ trợ. Chúng tôi
cũng nhận thấy rằng ở các công ty Công nghệ cao cấu trúc vốn/nợ đặc
biệt phức tạp hơn là ở các ngành khác - điều này làm tăng khả năng dẫn
tới các sai sót. Các công ty Công nghệ có khuynh hướng sử dụng cả vốn
vay và vốn huy động để đầu tư, có thể bao gồm các công cụ phái sinh,
hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ và hợp đồng quyền bán/mua. Kế toán
trong lĩnh vực này là rất phức tạp - chúng tôi gọi nó là kế toán siêu
cao cấp (hyper-complex accounting).
Câu hỏi: Ngài có thể kể một chút về quy trình kiểm toán việc ghi nhận doanh thu?
Trả lời: Việc đầu tiên là xem xét chính sách và thủ tục ghi nhận doanh
thu của Công ty để đảm bảo rằng chúng phù hợp với các quy định kế toán
đang được áp dụng. Một khi kiểm toán viên cảm thấy yên tâm rằng các
chính sách và các thủ tục trên là phù hợp, việc kiểm tra chi tiết tới
hợp đồng sẽ được thực hiện. Thông thường Kiểm toán viên sẽ chọn lựa các
hợp đồng mà theo họ là trọng yếu - khái niệm này thay đổi tuỳ vào từng
công ty. Và sau đó, Kiểm toán viên sẽ đọc các hợp đồng này cộng thêm cả
các phụ lục hợp đồng được lập trong suốt năm. Kiểm toán viên sẽ kiểm
tra để đảm bảo rằng doanh thu được ghi nhận trên Báo cáo tài chính một
cách đúng đắn. Kiểm toán viên cũng kiểm toán luôn cả các doanh thu chưa
thực hiện được ghi nhận vào doanh thu trong năm.
Thêm vào đó, KTV cũng sẽ lựa chọn các hợp đồng nhỏ hơn để kiểm tra, mặc
dù chúng không phải là trọng yếu, để đảm bảo rằng doanh thu của các hợp
đồng này cũng được ghi nhận một cách chính xác.
Câu hỏi: Điều luật Sarbanes-Oxley (SOX) (Đạo luật yêu cầu về hệ
thống kiểm soát nội bộ tại Mỹ) làm cho quá trình này đơn giản hơn hay
phức tạp hơn, thưa ông?
Trả lời: Với điều luật Sarbanes-Oxley quá trình này trở lên đơn giản
hơn một chút vì các Công ty hiện nay đã phác thảo các chính sách và thủ
tục ghi nhận doanh thu và các quy định liên quan đến từng trường hợp
ghi nhận doanh thu cụ thể. Những điều này đã làm tăng các bằng chứng
trợ giúp cho việc đảm bảo rằng doanh thu đã được ghi nhận đúng đắn. Hơn
nữa, chính sách ghi nhận doanh thu đã được truyền đạt cho bộ phận bán
hàng. Điều tôi nhận thấy trong các thông lệ tốt nhất ngày nay là các
nhân viên bán hàng hiểu được việc ghi nhận doanh thu và thậm chí các
thay đổi nhỏ trong hợp đồng có thể có ảnh hưởng lớn tới việc ghi nhận
doanh thu như thế nào?
Câu hỏi: Tại sao Ông lại nghĩ vậy?
Trả lời: Tôi nghĩ đó là kết quả của điều luật Sarbanes-Oxley. Rất nhiều
Công ty đại chúng đang nỗ lực để đào tạo lực lượng bán hàng của họ.
Câu hỏi: Vấn đề nào thường là phức tạp nhất trong cuộc kiểm toán?
Trả lời: Không có vấn đề nào cụ thể, mà cuộc kiểm toán có thể trở lên
phức tạp một cách bất ngờ. Ví dụ, một công ty tham gia một hợp đồng đặc
biệt mà không hiểu thấu đáo các hệ quả kế toán của hợp đồng này. Không
may, thường là sự cố chỉ xảy ra khi bộ phận quản lý khoá sổ và đột
nhiên phát hiện ra vấn đề - hoặc tồi tệ hơn - các Kiểm toán viên phát
hiện ra vấn đề mà khách hàng không biết là vấn đề này tồn tại. Khi điều
này xảy ra, các Kiểm toán viên cấp cao, các trưởng đoàn hoặc giám đốc
cuộc kiểm toán (Audit partner) cần dành nhiều thời gian hơn để tìm hiểu
và giải quyết tình huống này. Các vấn đề này cần đặc biệt chú ý đối với
các nhà đầu tư áp dụng phương pháp phân tích kỹ thuật, làm tốn thêm
nhiều thời gian và công sức.
Câu hỏi: Kiểm toán viên có vai trò gì trong việc giúp khách hàng cải thiện quy trình làm việc của họ hay không?
Trả lời: Có chứ. Khi chúng tôi bắt gặp các chính sách và thủ tục cần
phải cập nhật, hoặc chúng tôi thấy có các thông lệ tốt có thể đem lại
lợi ích cho khách hàng, thì chúng tôi sẽ đưa các vấn đề này vào thư
quản lý trình cho Ban giám đốc của Công ty. Đó là một phần công việc
bình thường trong quá trình của Kiểm toán.
Câu hỏi: Với điều luật Sarbanes-Oxley thì vai trò của kiểm toán viên có sự thay đổi căn bản nào?
Trả lời: Với điều luật Sarbanes-Oxley thì vai trò của kiểm toán viên có
sự thay đổi căn bản là ở chỗ, đối với các khách hàng sớm áp dụng điều
luật , các kiểm toán viên cần phải đưa ra ý kiến về các đánh giá của
Ban giám đốc và ý kiến về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng. Điều luật Sarbanes-Oxley trước đây thì không quy định điều
này.
Câu hỏi: Ngài đã nói khá lâu về điều luật Sarbanes-Oxley, chúng ta
sẽ kết thúc chủ đề này với một câu hỏi. Liệu các Công ty đại hiện nay
có hoạt động tốt hơn với điều luật Sarbanes-Oxley và họ có cảm thấy
thoải mái với điều luật này hay không?
Trả lời: Câu trả lời còn tuỳ thuộc vào các Công ty. Những Công ty đã
nhanh chóng áp dụng các quy định điều luật SOX 404 trong vài năm cảm
thấy khá thoải mái. Họ hiểu rõ các quy định, họ có sẵn hệ thống kiểm
soát của mình và đã được lập thành văn bản. Và họ đã có thể giao trách
nhiệm quy định trong SOX 404 tới các cấp quản lý và nhân viên một các
thích hợp. Về tổng thể, các công ty sớm áp dụng đạo luật này thích ứng
khá nhanh các yêu cầu của luật đối với Ban giám đốc, đối với Kiểm toán
viên và mối liên hệ giữa kiểm toán viên với Ban giám đốc.
Sẽ có sự ngập ngừng và lo lắng đối với các Công ty chưa sớm áp dụng
điều luật. Các công ty này sẽ phải tuân thủ điều luật Sarbanes-Oxley
404 lần đầu tiên vào năm 2007, và cho kỳ kiểm toán đầu tiên của họ vào
năm 2008. Một số cơ quan Công vụ đã cùng làm việc nhằm đưa ra các chỉ
dẫn cho các Công ty này. Uỷ ban chứng khoán quốc gia (SEC) và ban giám
sát kế toán các công ty đại chúng (PCAOB – The Public Company
Accounting Oversight Board) đang xem xét các hướng dẫn trên và Uỷ ban
quốc tế về kiểm soát nội bộ (“COSO”) mới đây đã đưa ra một bản hướng
dẫn thực hiện cho các doanh nghiệp nhỏ với tên gọi: “ Kiểm soát nội bộ
dựa trên Báo cáo tài chính - hướng dẫn dành cho các Công ty Đại chúng
loại nhỏ”.
Câu hỏi: Vậy rốt cuộc là có sự chỉ dẫn nào để các Công ty tư nhân làm theo hay không?
Trả lời: Một số doanh nghiệp tư nhân tình nguyện áp dụng SOX 404. tuy
nhiện hiện chưa có một điều luật nào bắt buộc các Công ty này phải chấp
hành SOX 404. Hiện nay, với các Công ty tư nhân điều luật này được xem
là thông lệ tốt nhất. |
 |
(Nguồn:
Webketoan) |
|
|